Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3

Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3
Đánh giá post

Tài liệu Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4

Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3 là bài giảng tiếp theo lớp luyện thi HSK online miễn phí của Thầy Vũ chuyên đào tạo các khóa học tiếng Trung online và khóa học tiếng Trung thương mại online trên hệ thống website giảng dạy tiếng Trung Quốc mỗi ngày của Trung tâm tiếng Trung Quận 10 ChineMaster TP HCM (Sài Gòn) và Trung tâm tiếng Trung Quận Thanh Xuân Hà Nội. Đây là tài liệu học tiếng Trung HSK online cực kỳ quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta có thêm tài liệu để rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tiếng Trung HSK ứng dụng thực tế thông qua các bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK online tương đương với trình độ tiếng Trung HSK 4, HSK 5 và HSK 6. Ngoài ra, trên website tiengtrunghsk.net này chúng ta còn được tiếp cận với rất nhiều nguồn tài liệu luyện thi HSKK online sơ cấp, luyện thi HSKK online trung cấp và luyện thi HSKK online cao cấp hoàn toàn miễn phí từ A – Z mà không cần phải trả bất kỳ một khoản phí dịch vụ thi thử HSK online nào cả. Đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa Trung tâm tiếng Trung luyện thi HSK miễn phí TiengTrungHSK ChineMaster so với các app thi thử HSK online bắt chúng ta phải trả phí cho họ. Các bạn hãy chia sẻ trang web luyện thi HSK online miễn phí này tới càng nhiều người càng tốt nhé để chúng ta cùng có nguồn tài liệu học tiếng Trung HSK online miễn phí chất lượng.

Để có thể nhớ được nhiều từ vựng tiếng Trung hơn và cũng như nhớ được nhiều mặt chữ Hán hơn, các bạn cần phải sử dụng bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin để tập gõ tiếng Trung online trên máy tính hàng ngày theo video bài giảng của Thầy Vũ nhé.

Gõ tiếng Trung sogou pinyin bản mới nhất

Khóa học Nhập hàng Trung Quốc tận gốc taobao tmall chi tiết và đầy đủ nhất do Thầy Vũ soạn thảo dành tặng cho tất cả những bạn có niềm đam mê yêu thích buôn bán và nhập hàng Trung Quốc các bạn tham khảo tại link sau nhé.

Khóa học nhập hàng Trung Quốc tận gốc taobao tmall

Tiếp theo là website thi thử HSK hằng ngày Thầy Vũ dành tặng đến tất cả các bạn,giúp các bạn có một trung tâm thi cũng như luyện thi tiếng Trung uy tín nhé các bạn

Website thi thử HSK online thầy Vũ

Trước khi các bào vào bài học ngày hôm nay thì hãy xem lại bài giảng ngày hôm qua tại link sau nhé.

Thi thử HSK online bài tập luyện kỹ năng đọc hiểu HSK phần 3

Trung tâm tiếng Trung HSK online uy tín ChineMaster liên tục khai giảng các khóa học tiếng Trung online cơ bản đến nâng cao qua các khóa giảng offline cũng như online,tại Hà Nội và TP HCM và có khóa học tiếng Trung qua Skype dành cho những bạn không có điều kiện đến học lớp offline.

Khóa học tiếng Trung online Thầy Vũ Skype

Bài học Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3

Hôm nay mình chia sẻ thêm với các bạn bài giảng mới nhất ngày 14 tháng 3 năm 2021 lớp Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3 với nội dung chi tiết ở bên dưới nhé.

维京人和基督教文化遗产的这种不寻常的结合使挪威的木板教堂成为独特的建筑种类。不幸的是,它们很快成为濒临灭绝的物种。

在14世纪,黑人瘟疫杀死了三分之二的当地人口。由于周围的人少了,可用的资源也少了,教堂没有得到维护,许多教堂倒塌了。几个世纪后,随着当地社区变得更加繁荣,破坏更加严重。然后,许多教堂被拆毁以建造更大的教堂。

在1650年,仅剩下270个梯级教堂,到1800年,它们中只有70个仍然屹立。这是世界上最古老的遗产保护协会Fortidsminneforeningen诞生的时候。它的创始人是艺术家,历史学家和考古学家。其中的关键人物是J.C. Dahl,他是当时的著名画家,以对挪威风景的忧郁描绘而闻名。尽管他主要从事国际职业,但每次回到家乡时,J.C。Dahl都会被木板教堂的美丽所感动,并渴望拯救他们免于消失。

这个社会提倡保护木板教堂。同时,它动员资金购买将要拆除的房屋,并根据其自己对远古时代的外观的解释对其进行了翻新。

该协会还帮助记录了这种濒临灭绝的宝贵遗产。在历史学家研究其历史的同时,素描师绘制了数十个木板教堂的动图。这就是我们对Torolf的了解,Torolf是一位木匠大师,他建造了其中的几把木杆,并与每种情况下的六个本地助手一起。这项工作涉及准备将近2,000个木制零件,然后组装它们而没有设计图或钉子,这是一项技术成就,需要非凡的技巧。

随着对遗产意识的增强,木板教堂的拆除逐渐放缓。该协会成立近35年后,它于1880年完全停止运营。到现在为止,其余28个梯级教堂都通过公共和私人举措得到保护。其中有8个列入挪威的遗产名录,其中1个进入了联合国教科文组织的世界遗产名录……但这距J.C. Dahl和他的同事们开始他们的运动已经差不多一个半世纪了。

当我一个又一个地参观木板教堂时,我认为他们的历史与当今的越南息息相关。在Bui Chu,Phat Diem和Thai Binh主教区下,确实有1200多个教堂,大致覆盖了Nam Dinh和Ninh Binh省。这是基督教传教士在1553年登陆殖民地的地方,很早就使该地区成为越南天主教的摇篮。

2019年5月,南定省北部的Bui Chu大教堂。

越南东北部的许多教堂已有超过一个世纪的历史。与挪威一样,它们完美地融合了截然不同的文化传统。他们的十字形布局是西方的,而宝塔的外观无疑是亚洲的。但是,随着当地社区变得更加繁荣,并有能力用更大(据称更漂亮)的现代建筑代替它们,如今这些建筑正处于危险之中。

在我离开挪威时,回想起我的家庭度假,我感到充满希望。根据经济史学家的说法,挪威在19世纪中叶的人均收入与20世纪末的越南相似。同时,越南人民和政府之间的遗产意识正在迅速发展。更大的财富和意识可以使人们感到乐观。如果挪威可以保留70个余下的木板教堂中的28个,那么应该有可能保留越南东北部大量老教堂的原始建筑。

沿途还应该记录这些非凡建筑物的建筑和历史。例如,我们不知道是否相当于Torolf(木匠大师)参与了他们的设计和建造。尽管越南没有发生过像“黑死病”那样的灾难,但我们对越南争取独立的斗争中当地社区所遭受的苦难却无能为力。

红河三角洲与挪威的峡湾完全不同。它的地势平坦,海洋呈河水般的褐色,浓湿的雾气弥漫了大地与天空之间的界限。永无止境的地平线让人有些难过,只是尽其所能地洒满了教堂塔楼。

因此,我不希望有大量的游客来穿越南定省和宁平省的乡村。但是希望有一天,像挪威一样,会有大量的游客来欣赏他们宏伟的教堂。

为什么东南亚不应该担心“人才外流”

人才流失是一个神话,它将技能迁移减少到零和游戏,在该游戏中,一个国家“获得”了从另一国家“流失”的脑力。

发送和接收的东南亚国家都应摒弃这一过时的概念,而应将技能流动视为经济增长的催化剂。通过制定适当的政策,亚太地区的国家将能够从其年轻的,充满活力的和熟练的劳动力中获得最大的收益。

人们认为技术移民会损害来源国是错误的,原因有三点。

首先,技术工人的供给是不固定的。工人通过积累更多和不同的技能来应对劳动力市场机会,迁移的可能性本身就是个人投资人力资本的有力动力。

其次,并非每个愿意迁移的新技能的人都会成功。第三,移居国外的人们不会“迷路”:返回时,他们带回了新的想法,技能和金融资产。即使他们不回来,他们仍会形成散居海外的网络,为全球劳动力市场,贸易和商业机会敞开大门。

1993年,英国政府转向了一种更具选择性的,以教育为基础的政策,以招募尼泊尔国民在英军中工作。因为这对尼泊尔男人来说是一个有利可图的外国就业机会,所以越来越多的人通过完成中学教育来应对政策变化。但是,每年新招募的人数没有变化:结果再次是人力资本存量的增加,这反映在工作质量和工资的提高上。

在2000年至2007年期间,美国为移民护士及其家人大幅增加了签证的获取范围。因此,菲律宾是世界上最大的护士出口国,护理毕业生的人数从9,000人增加到70,000人,而且并非所有人都能移民到美国,导致该国护士的供应净增加。菲律宾。

研究表明,熟练的移民通过扩大劳动力,填补特定行业或职业的短缺,为新发明做出贡献并开展新业务来促进其所在国的经济。但是重要的是也要承认它们会影响其本地同行的机会。这种影响将取决于两组之间的可替代性程度。

胡志明市地铁项目的外国专家。

例如,数学分析技能比管理和交流技能更容易在国家间转移,而管理和交流技能则更特定于文化和国家/地区。因此,将移民集中在数学分析技能密集的职业上并非偶然。原住民工人将通过转向与移民所提供的技能相辅相成的技能(例如管理和沟通技能)来做出回应,他们在这些技能中具有相对优势。此举将增强互补性,并减少移民与原住民之间的竞争。

1990年代中期,互联网蓬勃发展,导致美国对计算机科学家的需求激增。与前面的示例一样,迁移的前景增加了印度计算机科学领域的劳动力,并使印度的整体IT产出提高了5%。另一方面,在美国,工人离开了该部门,从而减少了9%的本地计算机科学劳动力。两国的消费者都受益于整体IT产品产量的增加,从而降低了IT产品的价格。两国的总收入增长了0.36%,这是因为IT专业人员从印度流向了美国。失败的计算机科学工作者无法移民到美国,并在2000年代初期加入了印度快速发展的IT部门。那些移民的人以新获得的技能和人脉返回。这将美国带动的繁荣带到了印度,到2000年代中期,印度的软件出口已经超过美国。

如果充分利用技能流动性,没有理由不能在东盟经济共同体(AEC)中复制成功的秘诀。当前,东盟地区依赖相互认可协议(MRA),该协议涵盖八个受监管的职业(会计,建筑,牙科,工程,医学,护理,测量和旅游)。但是,“熟练工人”的定义在不断发展。它不再与受管制的职业紧密相关,并且越来越多地涉及职业。有效的技能调动框架必须足够灵活,以快速响应劳动力市场的需求。

为了使任何技能流动框架都能发挥作用,东盟国家必须消除国家和地区的许多技术和政治障碍。

Chú thích phiên âm tiếng Trung cho bài giảng lớp luyện thi HSK online TiengTrungHSK Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3 để các bạn có thể đối chiếu và so sánh với văn bản tiếng Trung HSK online ở trên.

Wéi jīng rén hé jīdūjiào wénhuà yíchǎn de zhè zhǒng bù xúncháng de jiéhé shǐ nuówēi de mùbǎn jiàotáng chéngwéi dútè de jiànzhú zhǒnglèi. Bùxìng de shì, tāmen hěn kuài chéngwéi bīnlín mièjué de wùzhǒng.

Zài 14 shìjì, hēirén wēnyì shā sǐle sān fēn zhī èr dí dàng dì rénkǒu. Yóuyú zhōuwéi de rén shǎole, kěyòng de zīyuán yě shǎole, jiàotáng méiyǒu dédào wéihù, xǔduō jiàotáng dǎotāle. Jǐ gè shìjì hòu, suízhe dāngdì shèqū biàn dé gèngjiā fánróng, pòhuài gèngjiā yánzhòng. Ránhòu, xǔduō jiàotáng bèi chāihuǐ yǐ jiànzào gèng dà de jiàotáng.

Zài 1650 nián, jǐn shèng xià 270 gè tījí jiàotáng, dào 1800 nián, tāmen zhōng zhǐyǒu 70 gè réngrán yìlì. Zhè shì shìjiè shàng zuì gǔlǎo de yíchǎn bǎohù xiéhuì Fortidsminneforeningen dànshēng de shíhòu. Tā de chuàngshǐ rén shì yìshùjiā, lìshǐxué jiā hé kǎogǔ xué jiā. Qízhōng de guānjiàn rénwù shì J.C. Dahl, tā shì dāngshí de zhùmíng huàjiā, yǐ duì nuówēi fēngjǐng de yōuyù miáohuì ér wénmíng. Jǐnguǎn tā zhǔyào cóngshì guójì zhíyè, dàn měi cìhuí dào jiāxiāng shí,J.C.Dahl dūhuì bèi mùbǎn jiàotáng dì měilì suǒ gǎndòng, bìng kěwàng zhěngjiù tāmen miǎn yú xiāoshī.

Zhège shèhuì tíchàng bǎohù mùbǎn jiàotáng. Tóngshí, tā dòngyuán zījīn gòumǎi jiāngyào chāichú de fángwū, bìng gēnjù qí zìjǐ duì yuǎngǔ shídài de wàiguān de jiěshì duì qí jìnxíngle fānxīn.

Gāi xiéhuì hái bāngzhù jìlùle zhè zhǒng bīnlín mièjué de bǎoguì yíchǎn. Zài lìshǐ xué jiā yánjiū qí lìshǐ de tóngshí, sùmiáo shī huìzhìle shù shí gè mùbǎn jiàotáng de dòng tú. Zhè jiùshì wǒmen duì Torolf de liǎojiě,Torolf shì yī wèi mùjiàng dàshī, tā jiànzàole qízhōng de jǐ bǎ mù gān, bìng yǔ měi zhǒng qíngkuàng xià de liù gè běndì zhùshǒu yīqǐ. Zhè xiàng gōngzuò shèjí zhǔnbèi jiāngjìn 2,000 gè mù zhì língjiàn, ránhòu zǔzhuāng tāmen ér méiyǒu shèjì tú huò dīngzi, zhè shì yī xiàng jìshù chéngjiù, xūyào fēifán de jìqiǎo.

Suízhe duì yíchǎn yìshí de zēngqiáng, mùbǎn jiàotáng de chāichú zhújiàn fàng huǎn. Gāi xiéhuì chénglì jìn 35 nián hòu, tā yú 1880 nián wánquán tíngzhǐ yùnyíng. Dào xiànzài wéizhǐ, qíyú 28 gè tījí jiàotáng dōu tōngguò gōnggòng hé sīrén jǔcuò dédào bǎohù. Qízhōng yǒu 8 gè liè rù nuówēi de yíchǎn mínglù, qízhōng 1 gè jìnrùle liánhéguó jiàokē wén zǔzhī de shìjiè yíchǎn mínglù……dàn zhè jù J.C. Dahl hé tā de tóngshìmen kāishǐ tāmen de yùndòng yǐjīng chàbùduō yīgè bàn shìjìle.

Dāng wǒ yīgè yòu yīgè de cānguān mùbǎn jiàotáng shí, wǒ rènwéi tāmen de lìshǐ yǔ dāngjīn de yuènán xīxīxiāngguān. Zài Bui Chu,Phat Diem hé Thai Binh zhǔjiào qū xià, quèshí yǒu 1200 duō gè jiàotáng, dàzhì fùgàile Nam Dinh hé Ninh Binh shěng. Zhè shì jīdūjiào chuánjiào shì zài 1553 nián dēnglù zhímíndì dì dìfāng, hěn zǎo jiù shǐ gāi dìqū chéngwéi yuènán tiānzhǔjiào de yáolán.

2019 Nián 5 yuè, nán dìng xǐng běibù de Bui Chu dà jiàotáng.

Yuènán dōngběi bù de xǔduō jiàotáng yǐ yǒu chāoguò yīgè shìjì de lìshǐ. Yǔ nuówēi yīyàng, tāmen wánměi dì rónghéle jiérán bùtóng de wénhuà chuántǒng. Tāmen de shí zìxíng bùjú shì xīfāng de, ér bǎotǎ de wàiguān wúyí shì yàzhōu de. Dànshì, suízhe dāngdì shèqū biàn dé gèngjiā fánróng, bìng yǒu nénglì yòng gèng dà (jù chēng gèng piàoliang) de xiàndài jiànzhú dàitì tāmen, rújīn zhèxiē jiànzhú zhèng chǔyú wéixiǎn zhī zhōng.

Zài wǒ líkāi nuówēi shí, huíxiǎng qǐ wǒ de jiātíng dùjià, wǒ gǎndào chōngmǎn xīwàng. Gēnjù jīngjì shǐ xué jiā de shuōfǎ, nuówēi zài 19 shìjì zhōngyè de rénjūn shōurù yǔ 20 shìjìmò de yuènán xiāngsì. Tóngshí, yuènán rénmín hé zhèngfǔ zhī jiān de yíchǎn yìshí zhèngzài xùnsù fāzhǎn. Gèng dà de cáifù hé yìshí kěyǐ shǐ rénmen gǎndào lèguān. Rúguǒ nuówēi kěyǐ bǎoliú 70 gè yúxià de mùbǎn jiàotáng zhōng de 28 gè, nàme yīnggāi yǒu kěnéng bǎoliú yuènán dōngběi bù dàliàng lǎo jiàotáng de yuánshǐ jiànzhú.

Yántú hái yīnggāi jìlù zhèxiē fēifán jiànzhú wù de jiànzhú hé lìshǐ. Lìrú, wǒmen bù zhīdào shìfǒu xiāngdāng yú Torolf(mùjiàng dàshī) cānyùle tāmen de shèjì hé jiànzào. Jǐnguǎn yuènán méiyǒu fāshēngguò xiàng “hēi sǐ bìng” nàyàng de zāinàn, dàn wǒmen duì yuènán zhēngqǔ dúlì de dòuzhēng zhōng dāngdì shèqū suǒ zāoshòu de kǔnàn què wúnéngwéilì.

Hónghé sānjiǎozhōu yǔ nuówēi de xiá wān wánquán bùtóng. Tā dì dìshì píngtǎn, hǎiyáng chéng héshuǐ bān de hésè, nóng shī de wùqì mímànle dàdì yǔ tiānkōng zhī jiān de jièxiàn. Yǒng wú zhǐjìng dì dìpíngxiàn ràng rén yǒuxiē nánguò, zhǐshì jìn qí suǒ néng de sǎ mǎnle jiàotáng tǎlóu.

Yīncǐ, wǒ bù xīwàng yǒu dàliàng de yóukè lái chuānyuè nán dìng xǐng hé níng píng shěng de xiāngcūn. Dànshì xīwàng yǒu yītiān, xiàng nuówēi yīyàng, huì yǒu dàliàng de yóukè lái xīnshǎng tāmen hóngwěi de jiàotáng.

Wèishéme dōngnányà bù yìng gāi dānxīn “réncái wàiliú”

réncái liúshī shì yīgè shénhuà, tā jiāng jìnéng qiānyí jiǎnshǎo dào líng hé yóuxì, zài gāi yóuxì zhōng, yīgè guójiā “huòdé”le cóng lìng yī guójiā “liúshī” de nǎolì.

Fāsòng hé jiēshōu de dōngnányà guójiā dōu yīng bǐngqì zhè yī guòshí de gàiniàn, ér yīng jiāng jìnéng liúdòng shì wéi jīngjì zēngzhǎng de cuīhuàjì. Tōngguò zhìdìng shìdàng de zhèngcè, yàtài dìqū de guójiā jiāng nénggòu cóng qí niánqīng de, chōngmǎn huólì de hé shúliàn de láodònglì zhōng huòdé zuìdà de shōuyì.

Rénmen rènwéi jìshù yímín huì sǔnhài láiyuán guó shì cuòwù de, yuányīn yǒusān diǎn.

Shǒuxiān, jìshù gōngrén de gōngjǐ shì bù gùdìng de. Gōngrén tōngguò jīlěi gèng duō hé bùtóng de jìnéng lái yìngduì láodònglì shìchǎng jīhuì, qiānyí de kěnéng xìng běnshēn jiùshì gèrén tóuzī rénlì zīběn de yǒulì dònglì.

Qícì, bìngfēi měi gè yuànyì qiānyí de xīn jìnéng de rén dūhuì chénggōng. Dì sān, yíjū guówài de rénmen bù huì “mílù”: Fǎnhuí shí, tāmen dài huíle xīn de xiǎngfǎ, jìnéng hé jīnróng zīchǎn. Jíshǐ tāmen bù huílái, tāmen réng huì xíngchéng sǎnjū hǎiwài de wǎngluò, wèi quánqiú láodònglì shìchǎng, màoyì hé shāngyè jīhuì chǎngkāi dàmén.

1993 Nián, yīngguó zhèngfǔ zhuǎnxiàngle yī zhǒng gèng jù xuǎnzé xìng de, yǐ jiàoyù wèi jīchǔ de zhèngcè, yǐ zhāomù níbó’ěr guómín zài yīng jūn zhōng gōngzuò. Yīnwèi zhè duì níbó’ěr nánrén lái shuō shì yīgè yǒulì kě tú de wàiguó jiùyè jīhuì, suǒyǐ yuè lái yuè duō de rén tōngguò wánchéng zhōngxué jiàoyù lái yìngduì zhèngcè biànhuà. Dànshì, měinián xīn zhāomù de rénshù méiyǒu biànhuà: Jiéguǒ zàicì shì rénlì zīběn cúnliàng de zēngjiā, zhè fǎnyìng zài gōngzuò zhìliàng hé gōngzī de tígāo shàng.

Zài 2000 nián zhì 2007 nián qíjiān, měiguó wèi yímín hùshì jí qí jiārén dàfú zēngjiāle qiānzhèng de huòqǔ fànwéi. Yīncǐ, fēilǜbīn shì shìjiè shàng zuìdà de hùshì chūkǒu guó, hùlǐ bìyè shēng de rénshù cóng 9,000 rén zēngjiā dào 70,000 rén, érqiě bìngfēi suǒyǒu rén dōu néng yímín dào měiguó, dǎozhì gāi guó hùshì dì gōngyìng jìng zēngjiā. Fēilǜbīn.

Yánjiū biǎomíng, shúliàn de yímín tōngguò kuòdà láodònglì, tiánbǔ tèdìng hángyè huò zhíyè de duǎnquē, wèi xīn fāmíng zuò chū gòngxiàn bìng kāizhǎn xīn yèwù lái cùjìn qí suǒzài guó de jīngjì. Dànshì zhòngyào de shì yě yào chéngrèn tāmen huì yǐngxiǎng qí běndì tóngxíng de jīhuì. Zhè zhǒng yǐngxiǎng jiāng qǔjué yú liǎng zǔ zhī jiān de kě tìdài xìng chéngdù.

Húzhìmíng shì dìtiě xiàngmù dì wàiguó zhuānjiā.

Lìrú, shùxué fēnxī jìnéng bǐ guǎnlǐ hé jiāoliú jìnéng gèng róngyì zài guójiā jiān zhuǎnyí, ér guǎnlǐ hé jiāoliú jìnéng zé gèng tèdìng yú wénhuà hé guójiā/dìqū. Yīncǐ, jiāng yímín jízhōng zài shùxué fēnxī jìnéng mìjí de zhíyè shàng bìngfēi ǒurán. Yuán zhùmín gōngrén jiāng tōngguò zhuǎnxiàng yǔ yímín suǒ tígōng de jìnéng xiāngfǔxiāngchéng de jìnéng (lìrú guǎnlǐ hé gōutōng jìnéng) lái zuò chū huíyīng, tāmen zài zhèxiē jìnéng zhōng jùyǒu xiāngduì yōushì. Cǐ jǔ jiāng zēngqiáng hùbǔ xìng, bìng jiǎnshǎo yímín yǔ yuán zhùmín zhī jiān de jìngzhēng.

1990 Niándài zhōngqí, hùliánwǎng péngbó fāzhǎn, dǎozhì měiguó duì jìsuànjī kēxuéjiā de xūqiú jīzēng. Yǔ qiánmiàn de shìlì yīyàng, qiānyí de qiánjǐng zēngjiāle yìndù jìsuànjī kēxué lǐngyù de láodònglì, bìng shǐ yìndù de zhěngtǐ IT chǎn chū tígāole 5%. Lìng yī fāngmiàn, zài měiguó, gōngrén líkāile gāi bùmén, cóng’ér jiǎnshǎole 9%de běndì jìsuànjī kēxué láodònglì. Liǎng guó de xiāofèi zhě dōu shòuyì yú zhěngtǐ IT chǎnpǐn chǎnliàng de zēngjiā, cóng’ér jiàngdīle IT chǎnpǐn de jiàgé. Liǎng guó de zǒng shōurù zēngzhǎngle 0.36%, Zhè shì yīnwèi IT zhuānyè rényuán cóng yìndù liúxiàngle měiguó. Shībài de jìsuànjī kēxué gōngzuò zhě wúfǎ yímín dào měiguó, bìng zài 2000 niándài chūqí jiārùle yìndù kuàisù fāzhǎn de IT bùmén. Nàxiē yímín de rén yǐ xīn huòdé de jìnéng hé rénmài fǎnhuí. Zhè jiāng měiguó dàidòng de fánróng dài dàole yìndù, dào 2000 niándài zhōngqí, yìndù de ruǎnjiàn chūkǒu yǐjīng chāoguò měiguó.

Rúguǒ chōngfèn lìyòng jìnéng liúdòng xìng, méiyǒu lǐyóu bu néng zài dōngméng jīngjì gòngtóngtǐ (AEC) zhōng fùzhì chénggōng de mìjué. Dāngqián, dōngméng dìqū yīlài xiānghù rènkě xiéyì (MRA), gāi xiéyì hángài bā gè shòu jiānguǎn de zhíyè (kuàijì, jiànzhú, yákē, gōngchéng, yīxué, hùlǐ, cèliáng hé lǚyóu). Dànshì,“shúliàn gōngrén” de dìngyì zài bùduàn fāzhǎn. Tā bù zài yǔ shòu guǎnzhì de zhíyè jǐnmì xiāngguān, bìngqiě yuè lái yuè duō de shèjí zhíyè. Yǒuxiào de jìnéng diàodòng kuàngjià bìxū zúgòu línghuó, yǐ kuàisù xiǎngyìng láodònglì shìchǎng de xūqiú.

Wèile shǐ rènhé jìnéng liúdòng kuàngjià dōu néng fāhuī zuòyòng, dōngméng guójiā bìxū xiāochú guójiā hé dìqū de xǔduō jìshù hé zhèngzhì zhàng’ài.

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK online miễn phí này cung cấp luôn cả bản dịch tiếng Trung sang tiếng Việt cho chúng ta tham khảo, cực kỳ tiện lợi.

Sự kết hợp bất thường này giữa các di sản văn hóa Viking và Cơ đốc giáo khiến các nhà thờ cổ kính của Na Uy trở thành một kiểu kiến trúc riêng biệt. Thật không may, chúng sớm trở thành một loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Vào thế kỷ 14, bệnh Dịch hạch đen đã giết chết 2/3 dân số địa phương. Với ít người xung quanh hơn và ít tài nguyên hơn, các nhà thờ không được duy trì và nhiều nhà thờ đã sụp đổ. Thiệt hại thậm chí còn tồi tệ hơn khi các cộng đồng địa phương trở nên thịnh vượng hơn, nhiều thế kỷ sau đó. Sau đó, nhiều nhà thờ đã bị phá bỏ để xây dựng những nhà thờ lớn hơn.

Vào năm 1650, chỉ còn 270 nhà thờ cổ kính, và đến năm 1800 chỉ còn 70 trong số đó vẫn còn tồn tại. Đây là khi Fortidsminneforeningen, tổ chức bảo tồn di sản lâu đời nhất trên thế giới, ra đời. Những người sáng lập ra nó là các nghệ sĩ, nhà sử học và nhà khảo cổ học. Chủ chốt trong số đó là J.C. Dahl, một họa sĩ nổi tiếng thời bấy giờ, được biết đến nhiều nhất với những bức tranh miêu tả phong cảnh Na Uy đầy u uất. Bất chấp sự nghiệp quốc tế chủ yếu của mình, mỗi khi trở về nhà, J.C. Dahl đều cảm động trước vẻ đẹp của những nhà thờ cổ kính và muốn cứu chúng khỏi biến mất.

Xã hội này ủng hộ việc bảo vệ các nhà thờ trung thành. Song song đó, nó huy động tiền để mua những thứ sắp bị phá bỏ và cải tạo chúng dựa trên cách diễn giải của chính nó về việc chúng có thể trông như thế nào trong quá khứ xa xôi.

Xã hội cũng đã giúp tài liệu di sản quý giá này đang bị đe dọa. Các nhà phác thảo đã tạo ra các bản vẽ chuyển động của hàng chục nhà thờ vững chắc trong khi các nhà sử học nghiên cứu lịch sử của chúng. Đây là cách chúng ta biết về Torolf, một thợ mộc bậc thầy, người đã chế tạo ra một vài chiếc trong số chúng, cùng với nửa tá trợ lý địa phương trong mỗi trường hợp. Công việc liên quan đến việc chuẩn bị gần 2.000 mảnh gỗ và sau đó lắp ráp chúng mà không cần bản thiết kế hoặc đinh, một thành tựu kỹ thuật đòi hỏi kỹ năng phi thường.

Khi nhận thức về di sản tăng lên, việc phá hủy các nhà thờ bằng gỗ dần dần chậm lại. Nó dừng lại hoàn toàn vào năm 1880, gần 35 năm sau khi xã hội được thành lập. Đến nay, 28 nhà thờ còn lại đều được bảo vệ thông qua sự kết hợp của các sáng kiến công và tư. Tám trong số đó nằm trong danh sách di sản của Na Uy và một trong số đó đã lọt vào danh sách di sản thế giới của UNESCO … nhưng đây là gần một thế kỷ rưỡi sau khi J.C. Dahl và các đồng nghiệp của ông bắt đầu chiến dịch của họ.

Khi tôi đi thăm nhà thờ cổ này đến nhà thờ cổ khác, tôi nghĩ rằng lịch sử của họ rất liên quan đến Việt Nam ngày nay. Thực tế có hơn 1.200 nhà thờ thuộc các giáo phận Bùi Chu, Phát Diệm và Thái Bình, gần như bao gồm các tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Đây là nơi các nhà truyền giáo Thiên chúa giáo đổ bộ vào năm 1553, rất lâu trước thời thuộc địa, biến vùng này trở thành cái nôi của đạo Công giáo Việt Nam.

Nhà thờ chính tòa Bùi Chu, tỉnh Nam Định, tháng 5 năm 2019.

Nhiều nhà thờ ở miền đông bắc Việt Nam có tuổi đời hơn một thế kỷ. Và cũng giống như ở Na Uy, họ kết hợp một cách tuyệt vời các truyền thống văn hóa hoàn toàn khác nhau. Các bố cục hình chữ thập của họ là phương Tây, trong khi vẻ ngoài của chùa của họ là châu Á không thể nhầm lẫn. Nhưng những tòa nhà này ngày nay đang gặp rủi ro, khi các cộng đồng địa phương trở nên thịnh vượng hơn và có đủ phương tiện để thay thế chúng bằng những cấu trúc hiện đại lớn hơn (và được cho là đẹp hơn) nhiều.

Khi tôi rời Na Uy, suy nghĩ về kỳ nghỉ gia đình của mình, tôi cảm thấy hy vọng. Theo các nhà sử học kinh tế, thu nhập bình quân đầu người của Na Uy vào giữa thế kỷ 19 tương đương với Việt Nam vào cuối thế kỷ 20. Trong khi đó, nhận thức về di sản đang phát triển nhanh chóng ở Việt Nam, cả người dân và chính phủ. Sự giàu có và ý thức lớn hơn cho phép một số lạc quan. Nếu 28 trong số 70 nhà thờ cột còn lại có thể được cứu ở Na Uy, thì có thể bảo tồn được kiến trúc ban đầu của một số lượng lớn các nhà thờ cổ ở Đông Bắc Việt Nam.

Trên đường đi, bạn cũng có thể ghi lại kiến trúc và lịch sử của những tòa nhà đặc biệt này. Ví dụ, chúng tôi không biết liệu người tương đương với Torolf, người thợ mộc bậc thầy, có tham gia vào việc thiết kế và xây dựng của họ hay không. Và trong khi Việt Nam không trải qua bất cứ điều gì giống như Dịch hạch Đen, chúng tôi phớt lờ nhiều về những đau khổ của cộng đồng địa phương trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam.

Đồng bằng sông Hồng hoàn toàn khác với các vịnh hẹp ở Na Uy. Cảnh quan của nó bằng phẳng, biển có màu nâu của sông, và không khí mù sương từ độ ẩm nặng làm mờ ranh giới giữa trái đất và bầu trời. Có điều gì đó hơi buồn về phía chân trời không bao giờ kết thúc, chỉ rải rác những tháp nhà thờ xa tầm mắt.

Vì vậy, tôi sẽ không mong đợi một lượng lớn du khách sẽ đi bộ qua các vùng quê của các tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Nhưng hy vọng một ngày nào đó, một số lượng lớn du khách sẽ đến đó để chiêm ngưỡng những nhà thờ tráng lệ của họ, giống như ở Na Uy.

Tại sao Đông Nam Á không nên lo lắng về ‘chảy máu chất xám’

Chảy máu chất xám là một huyền thoại làm giảm sự di cư có kỹ năng thành một trò chơi có tổng bằng 0, trong đó một quốc gia “có được” sức mạnh chất xám bị “rút cạn” từ quốc gia khác.

Các quốc gia Đông Nam Á, cả gửi và nhận, nên loại bỏ quan niệm lỗi thời này và thay vào đó xem sự di chuyển kỹ năng như một chất xúc tác cho tăng trưởng kinh tế. Bằng cách đưa ra các chính sách phù hợp, các quốc gia trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương sẽ có thể tối đa hóa lợi ích từ lực lượng lao động trẻ, năng động và có tay nghề cao.

Nhận thức rằng di cư có tay nghề cao gây thiệt hại cho quốc gia đầu nguồn là sai vì ba lý do.

Thứ nhất, nguồn cung cấp công nhân lành nghề không cố định; người lao động đáp ứng các cơ hội của thị trường lao động bằng cách tích lũy ngày càng nhiều các kỹ năng khác nhau, và khả năng di cư tự nó là một động lực mạnh mẽ để các cá nhân đầu tư vào vốn con người.

Thứ hai, không phải ai có được các kỹ năng mới với ý định di cư đều sẽ thành công. Thứ ba, những người di cư không bị “mất mát”: khi họ trở về, họ mang về nhà những ý tưởng, kỹ năng và tài sản tài chính mới. Ngay cả khi họ không quay trở lại, họ hình thành các mạng lưới cộng đồng mở ra cánh cửa cho thị trường lao động toàn cầu, thương mại và cơ hội kinh doanh.

Năm 1993, chính phủ Anh chuyển sang chính sách dựa trên giáo dục có chọn lọc hơn để tuyển dụng công dân Nepal vào làm việc trong Quân đội Anh. Bởi vì đây là một cơ hội việc làm nước ngoài sinh lợi cho nam giới Nepal, ngày càng có nhiều người trong số họ hưởng ứng sự thay đổi chính sách bằng cách hoàn thành chương trình giáo dục trung học. Tuy nhiên, số lượng tuyển dụng mới mỗi năm không thay đổi: kết quả một lần nữa là nguồn vốn nhân lực tăng lên, thể hiện qua sự cải thiện về chất lượng công việc và tiền lương.

Trong giai đoạn 2000-2007, Hoa Kỳ đã mở rộng đáng kể việc cấp thị thực cho các y tá nhập cư và gia đình của họ. Do đó, số lượng sinh viên tốt nghiệp điều dưỡng ở Philippines, nước xuất khẩu y tá lớn nhất thế giới, tăng từ 9.000 lên 70.000 người, và không phải tất cả họ đều có thể di cư đến Hoa Kỳ, dẫn đến sự gia tăng ròng nguồn cung cấp y tá ở Phi-líp-pin.

Nghiên cứu chỉ ra rằng những người nhập cư có tay nghề cao đã thúc đẩy nền kinh tế của nước sở tại bằng cách mở rộng lực lượng lao động, lấp đầy tình trạng thiếu hụt trong các ngành hoặc nghề cụ thể, đóng góp vào các phát minh mới và bắt đầu kinh doanh mới. Nhưng cũng cần phải thừa nhận rằng chúng ảnh hưởng đến cơ hội của các đối tác bản xứ. Hiệu ứng này sẽ phụ thuộc vào mức độ thay thế giữa hai nhóm.

Chuyên gia nước ngoài tại dự án tuyến metro TP.

Ví dụ, các kỹ năng toán học-phân tích được chuyển giao giữa các quốc gia dễ dàng hơn các kỹ năng quản lý và giao tiếp, vốn mang tính văn hóa và quốc gia cụ thể hơn. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà người nhập cư có xu hướng tập trung vào các ngành nghề chuyên sâu về kỹ năng toán học-phân tích. Người lao động bản xứ sẽ đáp ứng bằng cách hướng tới các kỹ năng bổ sung cho những kỹ năng được cung cấp bởi người nhập cư, chẳng hạn như kỹ năng quản lý và giao tiếp, trong đó họ có lợi thế so sánh. Động thái này sẽ tăng cường tính bổ sung và giảm bớt sự cạnh tranh giữa người nhập cư và người bản xứ.

Sự bùng nổ internet vào giữa những năm 1990 đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đối với các nhà khoa học máy tính ở Hoa Kỳ Như trong các ví dụ trước, triển vọng di cư đã làm tăng lực lượng lao động khoa học máy tính ở Ấn Độ và nâng tổng sản lượng CNTT của Ấn Độ lên 5%. Mặt khác, ở Hoa Kỳ, công nhân rời bỏ lĩnh vực này, làm giảm 9% lực lượng lao động khoa học máy tính bản địa. Người tiêu dùng ở cả hai quốc gia đều được hưởng lợi từ tổng sản lượng CNTT lớn hơn, dẫn đến giá các sản phẩm CNTT thấp hơn. Thu nhập tổng hợp của cả hai quốc gia tăng 0,36% do dòng chảy của các chuyên gia CNTT từ Ấn Độ sang Mỹ. Những nhân viên khoa học máy tính không thành công không thể di cư sang Mỹ đã tham gia vào lĩnh vực CNTT đang phát triển nhanh chóng ở Ấn Độ và vào đầu những năm 2000 những người di cư đã trở về với các kỹ năng và kết nối mới có được. Điều này đã mang lại sự bùng nổ do Hoa Kỳ dẫn đầu cho Ấn Độ, và vào giữa những năm 2000, Ấn Độ đã vượt qua Hoa Kỳ về xuất khẩu phần mềm.

Không có lý do gì mà công thức thành công này không thể được nhân rộng trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), nếu nó tận dụng tối đa khả năng di chuyển của kỹ năng. Hiện tại, khu vực ASEAN dựa vào các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) bao gồm tám ngành nghề được quản lý (kế toán, kiến trúc, nha khoa, kỹ thuật, y học, điều dưỡng, khảo sát và du lịch). Nhưng định nghĩa của “công nhân lành nghề” là không ngừng phát triển. Nó không còn liên kết chặt chẽ với các ngành nghề được quy định, và nó ngày càng liên quan đến các nghề dạy nghề. Một khuôn khổ hiệu quả cho sự dịch chuyển kỹ năng phải đủ linh hoạt để đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu của thị trường lao động.

Để bất kỳ khung di chuyển kỹ năng nào hoạt động, các nước ASEAN phải loại bỏ nhiều rào cản kỹ thuật và chính trị — cả quốc gia và khu vực.

Trên đây là nội dung bài học hôm nay Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3 . Các bạn cần hỏi gì thêm thì để lại bình luận trong Diễn đàn Dân tiếng Trung hoặc Diễn đàn Học tiếng Trung ChineMaster nhé.

0 responses on "Thi thử HSK online bài tập đọc hiểu tiếng Trung HSK 4 phần 3"

    Leave a Message

    CHINEMASTER CƠ SỞ 1

    Số 1 Ngõ 48 Tô Vĩnh Diện, Phường Khương Trung, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

    CHINEMASTER CƠ SỞ 2

    Số 5 Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn).

    CHINEMASTER CƠ SỞ 3

    Phường Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội.

    CHINEMASTER CƠ SỞ 4

    Ngõ 17 Khương Hạ, Phường Khương Đình, Quận Thanh Xuân Hà Nội.

    CHINEMASTER CƠ SỞ 5

    Số 349 Vũ Tông Phan, Phường Khương Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

    CHINEMASTER CƠ SỞ 6

    Số 72A Nguyễn Trãi, Phường Thượng Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

    CHINEMASTER CƠ SỞ 7

    Số 168 Nguyễn Xiển, Phường Hạ Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

    CHINEMASTER CƠ SỞ 8

    Ngõ 250 Nguyễn Xiển, Phường Hạ Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.